Quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động?

Luật Minh Khuê tư vấn về lĩnh vực lao động và các vấn đề liên quan:

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật lao động 2012

Nghị định số 95/2013/NĐ-CP  của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội

II. Nội dung tư vấn: 

Luật sư tư vấn giúp em với : hiện tại em đang làm việc ở 1 công ty dược ki hợp đồng lao động 2 năm (1/1/2015 - 1/1/2017) và đã tham gia đóng BHXH từ 1/1/2015 đến 1/9/2016 (hệ số lương là 1.80) . Nhưng nay vì 1 số lý do nên không thể tiếp tục làm việc được . Như vậy trường hợp của em có bị vi phạm hợp đồng lao động không ? và em có được nhận tiền BHXH không nếu có thì số tiền đó là bao nhiêu nhiêu ạ ? Rất mong sớm nhận được tư vấn của luật sư , chúc luật sư sức khoẻ ! Em xin chân thành cám ơn .

Theo những thông tin bạn cung cấp thì hợp đồng lao động của bạn là loại hợp đồng xác định thời hạn và bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Về vấn đề nghỉ việc thì thời hạn báo trước khi nghỉ việc Bộ luật lao động 2012 có quy định như sau:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này…..”

Như vậy, Khoản 2, Khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động 2012 quy định, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có nghĩa vụ phải báo trước ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn. Nếu vi phạm thời hạn báo trước thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trái pháp luật.

Trong trường hợp vi phạm thời hạn báo trước, bạn có nghĩa vụ theo quy định tại Điều 43 Bộ luật Lao động 2012 như sau:

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theohợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.” 

Như vậy nếu bạn chỉ có vi phạm về thời hạn báo trước thì bạn phải chịu nghĩa vụ là: bồi thường cho công ty một khoản tiền lương ứng với tiền lương của bạn trong những ngày không báo trước.

Trong trường hợp của bạn, về chế độ BHXH do bạn không cung cấp đủ thông tin nên chúng tôi không thể tư vấn cho bạn rõ ràng được. Bạn muốn hỏi về bảo hiểm xã hội một lần hay bảo hiểm thất nghiệp hay bảo hiểm y tế. 

Bố tôi là chủ thầu xây dựng, chẳng may trong lao động công nhân của bố tôi bị ngã và thiệt hại tới tính mạng. Khi tham gia lao động, 2 bên không kí kết hợp đồng lao động ( vì thi công nhà dân, lao động đi làm tự nguyện). Luật sư cho tôi hỏi, theo như đúng pháp luật thì bố tôi phải đền bù như thế nào? Và giải quyết việc này ra sao? Cảm ơn luật sư!

Do bạn chưa cung cấp đầy đủ thông tin về thời gian làm việc giữa bố bạn và người lao động là bao lâu nên chúng tôi chỉ có thể tư vấn các trường hợp dự liệu như sau:

+, Trường hợp 1: Đối với công việc có thời hạn dưới 3 tháng thì các bên có thể giao kết hợp đồng bằng lời nói. Với loại hợp đồng này thì phải có căn cứ chứng minh người lao động và bố bạn đã thỏa thuận về việc làm có trả lương, mức lương, thời hạn trả lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, địa điểm làm việc, các nội dung thỏa thuận khác,…. Việc chứng minh này cần có người làm chứng hoặc có camera ghi lại cuộc nói chuyện giữa người lao động và bố bạn. Và khi có xảy ra các vấn đề về tai nạn lao động xảy ra thì người lao động vẫn được hưởng các chế độ về tai nạn lao động theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi xảy ra tai nạ lao động được quy định tại Điều 144 Bộ luật lao động:

“1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này”.

Cùng theo đó là quyền của người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

“Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.”

Thông thường đối với hợp đồng được giao kết bằng miệng sẽ không đặt ra vấn đề về việc đóng bảo hiểm cho người lao động và đối với công việc có thời hạn dưới 3 tháng không phải là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vì vậy, khi xảy ra tai nạn lao động, bố bạn phải chi trả chế độ tai nạn lao động cho người lao động với số tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động mà Luật BHXH quy định. 

+, Trường hợp 2: Người lao động không có một chứng cứ nào có thể chứng minh về sự thỏa thuận làm việc giữa hai bên. Khi đó, dù có bất cứ vấn đề gì về tai nạn lao động thì người lao động cũng không được bồi thường một khoản chi phí nào cả.

Theo thông tin bạn cung cấp khi người lao động bị TNLĐ không qua khỏi thì bố bạn có trách nhiệm thanh toán toàn phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu cho đến khi bố bạn không qua khỏi và phải trả đủ tiền lương trong thời gian người lao động làm việc và thời gian nghỉ điều trị nếu có .Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm bắt buộc thì được hưởng chế độ TNLĐ theo luật bảo hiểm xã hội trường hợp người lao động bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội mà người sử dụng lao động không mua bảo hiểm xã hội thì bố bạn phải trả toàn bộ số tiền  tương đương với chế độ TNLĐ theo luật bảo hiểm xã hội .Ngoài ra do TNLĐ người lao động đã tử vong nên bố bạn có trách nhiệm bồi thường ít nhất 30 tháng tiền lương  theo hợp đồng lao động cho nhân thân người tai nạn bị chết nếu lỗi do bên bố bạn. Trường hợp do lỗi của người lao động thì gia đình người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% với mức do lỗi của bên bố bạn .

Xin chào luật sư! Em hiện đang làm chủ thầu xây dựng ở quê. Có thuê người làm thuê cho mình, nhưng hai bên không có ký kết hợp đồng lao động. Trong quá trình làm không may công nhân của mình bị tai nan thương vong. Theo luật sư thì tôi sẽ bị xử lý trước pháp luật như thế nào? Mong luật sư tư vấn giúp ạ! Trân trọng cám ơn!

Theo quy định tại điều 18 Bộ luật lao động năm 2012 thì khi người lao động làm việc cho bạn, bạn phải có nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Song ở đây, bạn đã không thưc hiện nghĩa vụ đó nên bạn đã vi phạm quy định tại điều 18 Bộ luật lao động 2012 về nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động với người lao động:

“Điều 18. Nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động

1. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

2. Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; trường hợp này hợp đồng lao động có hiệu lực như giao kết với từng người.

Hợp đồng lao động do người được ủy quyền giao kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký của từng người lao động”.

Theo Điều 16 Bộ luật Lao động 2012 về Hình thức hợp đồng lao động thì:

“1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.”

Khi bạn vi phạm về việc giao kết hợp đồng như trên bạn sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động

1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên. 

Kính chào luật sư tôi có vấn đề cần thắc mắc như sau: Công ty tôi mới thành lập và có ký hợp đồng lao động với người lao động trong doanh nghiệp. Vậy tôi cần làm những thủ tục như thế nào để đăng ký đóng bảo hiểm cho người lao động.?

Về thủ tục đăng kí đóng bảo hiểm cho người lao động bạn có thể tham khảo bài viết dưới đây:

Thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội lần đầu với công ty mới thành lập ?

Luật sư cho e hỏi: trong hợp đồng lao động không xác định thời hạn có ghi mức lương chính và các khoản phụ cấp, ví dụ mỗi năm mức lương đều thay đổi mình có cần phải làm phụ lục hợp đồng kèm theo không, ở phần chế độ nâng lương mình có ghi 01 năm 01 lần vậy mình không cần phải làm phụ lục lục mỗi khi tăng lương phải không? mong luật sư giải đáp thắc mắc của em, cám ơn luật sư nhiều.

 Điều 24 BLLĐ 2012 quy định về phụ lục HĐLĐ như sau:

Điều 24. Phụ lục hợp đồng lao động

1. Phụ lục hợp đồng lao động là một bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động.

2. Phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều khoản hoặc để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều, khoản của hợp đồng lao động mà dẫn đến cách hiểu khác với hợp đồng lao động thì thực hiện theo nội dung của hợp đồng lao động.

Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động dùng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động thì phải ghi rõ nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực

Như vậy, theo quy định trên thì phụ lục hợp đồng dùng để quy định chi tiết một số điều khoản hoặc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động nên bạn hoàn toàn có thể lập phụ lục HĐLĐ để sửa đổi nội dung khoản lương theo như thỏa thuận ban đầu của 2 bên khi giao kết hợp đồng lao động.

Tham khảo bài viết liên quan:

Tư vấn pháp luật lao động về việc bổ sung phụ lục hợp đồng lao động?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6171 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê.

Bạn đang theo dõi bài viết Quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động? được phòng Tư vấn luật lao động đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Tôi muốn đổi tên giấy khai sinh cho con gái sinh năm 2015 tên là phạm quỳnh như. Trong gia đình tôi hiện tại không thích tên này nên muốn đổi, không biết khi nêu lý do như vậy thì có được đổi không nên tôi muốn nhờ luật sư tư vấn và hướng dẫn cho. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Xin chào: tôi tên là TH , trước đây tôi có địa chỉ hộ khẩu ở thành phố hải phòng tôi là người việt nam, kết hôn với người hàn quốc. Trước đây khi nhập quốc tịch hq do luật chỉ được phép có một quốc tịch nên tôi đã xin từ bỏ quốc tịch vn. Bây giờ tôi muốn xin phục hồi quốc tịch vn để có song tịch.
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171