Thủ tục ly hôn và các vấn đề liên quan đến chia tài sản thừa kế sau khi ly hôn ?

Ly hôn đơn phương và ly hôn thuận tình. Thủ tục ly hôn. Các vấn đề liên quan đến chia tài sản thừa kế sau khi ly hôn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật Dân sự năm 2005

Luật cư trú năm 2006, sửa đổi năm 2013

Thông tư số 35/2014/TT-BCA

2.  Luật sư tư vấn

Anh Cường và chị Hà kết hôn năm 1989, có 2 con gái là Ngọc sinh năm 1990 (đi làm tại một công ty nước ngoài) và Hạnh sinh nắm 1996. Năm 2008, Cường đi tu nghiệp sinh ở Nhật Bản và chung sống như vợ chồng với Chi, hai người đã có một con chung là Hiệp sinh năm 2010. Tháng 11/2013 Cường về nước và yêu cầu Hà ly hôn, Chị Hà đồng ý, Tòa án đã thụ lý đơn. Ngày 8/1/2014, Cường bị nhồi máu cơ tim, trước khi chết Cường di chúc để lại cho Chi, Hiệp, Ngọc mỗi người một phần đều nhau. Chi đến đòi tài sản thừa kế của anh Cường nhưng gia đình anh Cường không đồng ý. Vì vậy Chi đã làm đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Biết rằng: - Cường và Chi cùng kinh doanh và có khối tài sản chung là 4 tỷ đồng. - Tài sản chung của Cường và Hà là 880 triệu đồng. - Tháng 8/2013, Cường được hưởng di sản thừa kế từ ông nội 300tr, chị Hà giữ, khi về nước Cường đã đòi lại khoản tiền đó từ vợ. 1. Chia thừa kế trong trường hợp này. 2. Giả sử Ngọc vì giận bố phản bội mẹ, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình nên đã thuê người đánh Cường và Chi gây thương tích và bị tòa án kết an hành vi này. Hãy chia di sản anh Cường trong trường hợp anh Cường không để lại di chúc. Em cảm ơn

1. Chia tài sản thừa kế

Tài sản riêng của anh Cường là : 300 triệu. 

Tài sản chung của anh Cường và chị Hà: 880 triệu đồng.

Tài sản chung của Anh Cường và chị Chi là: 4 tỷ đồng 

Căn cứ quy định điều 219, Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 219. Sở hữu chung của vợ chồng

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án". 

Theo quy định trên thì tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, do đó, cả người đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt. Phần tài sản chung này nếu hai bên không có thỏa thuận khác thì mỗi người sẽ được hưởng là 440 triệu đồng. 

Như vậy, số tài sản riêng của anh Cường trong số tài sản chung với chị Hà là 440 triệu đồng. 

Số tài sản chung của anh Cường và chị Chi nếu như không có thỏa thuận khác thì mỗi người sẽ được chia đều là mỗi người 2 tỷ. 

Do đó, tổng số tài sản riêng của anh Cường là: 300 triệu đồng ( tài sản riêng ) + 440 triệu đồng ( tài sản riêng trong khối tài sản chung với chị Hà ) + 2 tỷ ( tài sản riêng trong khối tài sản chung với chị Chi)=  2 tỷ 740 triệu. 

 Di chúc của anh Cường chỉ để lại tài sản cho Chi, Hiệp, Ngọc mỗi người một phần đều nhau. 

Tuy nhiên, căn cứ quy định tại điều 669, Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động". 

Theo quy định trên thì số tài sản của anh Cường khi chia theo pháp luật thì người được hưởng là: Chị Hà, Ngọc, Hạnh và Hiệp. Chị Chi không được hưởng vì chị Chi không phải là vợ hợp pháp của anh Cường. Khi đó, phần tài sản 2 tỷ 740 triệu chia cho 4 phần thì mỗi người sẽ được hưởng số di sản là 685 triệu. 

Do đó, căn cứ quy định trên thì: 

- Chị Hà vẫn được hưởng phần si sản 2/3 bằng với di sản của người thừa kế thoe pháp luật. Theo đó, chị Hà sẽ được hưởng 456 triệu đồng. 

- Đối với Hạnh, con chung của chị Hà và Anh Cường thì nếu Hạnh không còn khả năng lao động thì vẫn được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc, trường hợp Hạnh có khả năng lao động bình thường thì sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo quy định trên. Trường hợp Hạnh được hưởng thì số di sản được hưởng là 456 triệu đồng. 

 Mà theo di chúc anh Cường chỉ để lại di sản cho chị Chi, Ngọc, Hiệp. Khi đó, mỗi người sẽ được hưởng số di sản là:

- Thứ nhất, trường hợp: Chị Hà và Hạnh đều được hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc thì Chi, Hiệp, Ngọc được hưởng là: 2 tỷ 740 - ( 456+456) : 3 =  609 triệu đồng/ người. 

- Thứ hai, trường hợp: Hạnh không được hưởng di sản mà chỉ có chị Hà mới được hưởng thì số tài sản mà Chi, Hiệp, Ngọc được hưởng là: 2 tỷ 740 - 456 :3 = 761 triệu đồng / người. 

- Thứ ba, trường hợp: Cả Hạnh và Chị Hà từ chối  nhận di sản thừa kế thì Chi, Hiệp, Ngọc được hưởng số di sản là: 2 tỷ 740 : 3 = 913 triệu/ người. 

2. Chia di sản thừa kế khi không có di chúc

Căn cứ quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản." 

Trường hợp này anh Cường không để lại di chúc, thì những người được hưởng thừa kế gồm: Chị Hà, Ngọc, Hiệp và Hạnh. Những người này cùng hàng thừa kế nên cùng được hưởng phần di sản bằng nhau. Chị Chi không phải là vợ hợp pháp của anh Cường nên không thuộc trường hợp được hưởng di sản thừa kế.  Như vậy, mỗi người sẽ được số di sản thừa kế là: 2 tỷ 740 : 4 = 685 triệu đồng/ người. 

Tuy nhiên, Ngọc không được hưởng di sản thừa kế vì thuộc trường hợp không đuộc quyền hưởng di sản theo quy định tại điều 643, Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: 

" Điều 643. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc". 

Do đó, người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật sẽ là: Chị Hà, Hiệp, Hạnh mỗi người là 913 triệu/ người. 

Anh rể em và chị gái đã li hôn. Nhưng tòa chỉ giải quyết li hôn và con gái do chị em nuôi. Chị gái em muốn đựơc chồng trợ cấp nuôi con cho đến năm 18 tuổi thì làm đơn theo, mẫu nào ạ?

Trường hợp này, căn cứ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết". 

Như vậy, trường hợp này, việc cấp dưỡng là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên dưới 18 tuổi. Do đó, dù người mẹ không làm đơn yêu cầu thì người cha cũng phải cấp dưỡng cho con đến khi con đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng này hai bên có thể thỏa thuận với nhau, trường hợp không thỏa thuận được thì hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. 

Chào Luật Sư! Tôi có một vấn đề cần được giải đáp như sau: Mảnh đất nhà tôi đang ở và của người anh trai tôi đều là đất thừa kế. Nhà anh trai tôi ở bên trong và có lối đi qua nhà tôi. Lối đi qua đó thuộc quyền sở hữu đất của nhà tôi có thể hiện trên sổ đỏ. Giờ người anh trai nộp đơn ra tòa muốn đòi lại phần đất ở lối đi chung đó thuộc về mình là đúng hay sai? Và việc phần đất đó nhà tôi chỉ muốn để cho nhà anh trai đi nhờ chứ không muốn bán cũng k muốn đổi thì có được không? Rất mong nhận được câu trả lời! Thanks All!

Căn cứ quy định tại điều 275, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

Điều 275. Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

3. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù" 

Theo thông tin bạn đưa ra thì việc bạn nhường phần đất của gia đình mình làm lối đi chung cho gia đình nhà anh trai là đã thực hiện đúng về việc đáp ứng nghĩa vụ lối đi qua bất động sản liền kề theo quy định trên. Phần đất này có trên giấy chứng nhận sử dụng đất thì anh trai bạn không có quyền đòi lại đất phần lối đi chung đó, đồng thời việc không muốn bán hay đổi phần đất này là do quyết định của gia đình bạn. Nếu gia đình bạn muốn bán, hay đổi thì phải thỏa thuận với gia đình đi qua lối đi qua đó. 

Kính chào quý luật sư. Hiện tôi đang muốn tìm hiểu thủ tục cũng như chi phí thuê luật sư giải quyết việc li hôm giữa 2 vợ chồng tôi. Chúng tôi hiện có một cháu 28 tháng và không có tài sản chung. Kính mong luật sư tư vấn giúp trường hợp của tôi. Trân trọng cảm ơn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu về thủ tục và chi phí thuê luật sư giải quyết ly hôn thì bạn có thể liên hệ trực tiếp qua tổng đài: 1900 6161 để trao đổi trực tiếp về vấn đề này. 

Tôi có câu hỏi muốn hỏi luật sư: Hiện tôi và chồng đã li hôn, sau  vẫn chưa tách ra khỏi skhi li hôn chồng tôi có làm sổ hộ khẩu mới nhưng sổ hộ khẩu cũ (hộ khẩu cũ do tôi làm chủ hộ) và tiến hành kết hôn với vợ mới. Vậy xin cho hỏi, hiện tại tôi có cần phải đi xóa tên chồng cũ ra khỏi sổ hộ khẩu của mình không? Nếu đi xóa tên thì cần phải làm các thủ tục nào? và làm ở đâu ? tôi xin cảm ơn

Căn cứ quy định của Luật cư trú năm 2006, sửa đổi năm 2013 như sau:

Điều 22. Xoá đăng ký thường trú

1. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú:

a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết;

b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại;

c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này;

d) Ra nước ngoài để định cư;

đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.

2. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký thường trú thì cũng có thẩm quyền xoá đăng ký thường trú.

3. Thủ tục cụ thể xoá đăng ký thường trú và điều chỉnh hồ sơ, tài liệu, sổ sách có liên quan do Bộ trưởng Bộ Công an quy định". 

Thủ tục xóa đăng ký thường trú căn cứ quy định tại khoản 3, điều 11, Thông tư số 35/2014/TT-BCA quy định như sau:

" 3. Thủ tục xóa tên đối với các trường hợp thuộc điểm đ khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú: 

a) Đối với các xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh 

- Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo đã đăng ký thường trú của cơ quan đăng ký cư trú nơi công dân chuyển đến, phải thông báo cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình mang sổ hộ khẩu đến làm thủ tục xóa tên trong sổ đăng ký thường trú, xóa tên trong sổ hộ khẩu (đối với trường hợp không chuyển cả hộ), thông báo việc đã xóa đăng ký thường trú cho Công an huyện; 

- Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo việc xóa đăng ký thường trú của Công an xã, thị trấn; Công an huyện phải chuyển hồ sơ đăng ký thường trú cho Công an cùng cấp nơi công dân chuyển đến và thông báo cho tàng thư căn cước công dân; 

b) Đối với các huyện, quận, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; thị xã, thành phố thuộc tỉnh 

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo đã đăng ký thường trú của cơ quan đăng ký cư trú nơi công dân chuyển đến, phải thông báo cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình mang sổ hộ khẩu đến làm thủ tục xóa tên trong sổ đăng ký thường trú, xóa tên trong sổ hộ khẩu (đối với trường hợp không chuyển cả hộ), thông báo việc đã xóa đăng ký thường trú cho tàng thư căn cước công dân và Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, phải chuyển hồ sơ đăng ký thường trú cho Công an cùng cấp nơi công dân chuyển đến". 

Như vậy, trường hợp này, Chồng bạn chưa tách sổ hộ khẩu mà đã đăng ký sổ hộ khẩu mới là sai với quy trình của pháp luật. Trường hợp này bạn có thể yêu cầu chồng bạn lên cơ quan đăng ký hộ khẩu mới thông báo cho bên cơ quan đăng ký thường trú cũ để tiến hành xóa đăng ký thường trú theo thủ tục trên. Hoặc nếu chồng bạn không thực hiện thì bạn có quyền tố giác chồng bạn với cơ quan đăng ký thường trú nơi chồng bạn chưa tách khẩu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6171 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.         

Bộ phận luật sư Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

Bạn đang theo dõi bài viết Thủ tục ly hôn và các vấn đề liên quan đến chia tài sản thừa kế sau khi ly hôn ? được phòng Tư vấn luật hôn nhân đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Tôi muốn đổi tên giấy khai sinh cho con gái sinh năm 2015 tên là phạm quỳnh như. Trong gia đình tôi hiện tại không thích tên này nên muốn đổi, không biết khi nêu lý do như vậy thì có được đổi không nên tôi muốn nhờ luật sư tư vấn và hướng dẫn cho. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Xin chào: tôi tên là TH , trước đây tôi có địa chỉ hộ khẩu ở thành phố hải phòng tôi là người việt nam, kết hôn với người hàn quốc. Trước đây khi nhập quốc tịch hq do luật chỉ được phép có một quốc tịch nên tôi đã xin từ bỏ quốc tịch vn. Bây giờ tôi muốn xin phục hồi quốc tịch vn để có song tịch.
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171