Những vấn đề pháp lý liên quan đến việc sinh con thứ 3 ?

Luật Minh Khuê giải đáp những thắc mắc về quan hệ giữa cha mẹ và con;

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Căn cứ pháp lý: 

Bộ luật lao động 2012  

Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội

Luật nghĩa vụ quân sự 2015

Nghị định số 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế

II. Nội dung tư vấn:

Tôi muốn hỏi. Hiện nay tôi đang mang thai con thứ ba, lần đầu tôi sinh đôi được hai cháu. Tôi bị vỡ kế hoạch nên mang thai đứa thứ ba. Vay cho tôi hỏi tôi có vi phạm hay không. Hiện tôi là giáo viên của một trường tiểu hoc. Kính mong luật sư tư vấn giúp

Trước đây khi thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình nhà nước có chủ trương cấm sinh con thứ ba đối với công nhân viên chức. Nếu sinh con thứ ba thì sẽ chịu xử phạt hành chính, tước quyền sử dụng giấy phép, tước chứng chỉ hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ, hay bị khiển trách kỷ luật của cơ quan nơi người đó đang đảm nhiệm chức vụ, đang công tác.

Tuy nhiên, khi Nghị định 176/2013/NĐ-CP có hiệu lực kể từ 31/12/2013 ra đời thay thếNghị định 114/2006/NĐ-CP (đã hết hiệu lực thi hành) về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em đã không đề cập gì đến việc “xử lý việc sinh con thứ ba” nữa. Đây là một chính sách mở để đối phó với tình trạng dân số của Việt Nam trong tương lai. Do đó, những quy định xử lý việc sinh con thứ 3 cũng sẽ phải thay đổi đảm bảo tính thống nhất của pháp luật.

Điều này có nghĩa là pháp luật hiện tại không cấm việc sinh con thứ 3 đối với cán bộ, công nhân, viên chức. Pháp luật hiện hành để hở chế độ sinh con thứ ba, nên việc cơ quan nơi nơi người sinh con thứ ba không được viện cớ để xử lý đối với nhân viên cơ quan mình sinh con thứ 3. Tuy nhiên, hình thức xử lý cụ thể cho mỗi công chức, viên chức vi phạm được thực hiện theo quy định trong nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị đó đề ra nên cần tham khảo nội quy tại cơ quan người sinh con thứ ba đang làm việc.

Như vậy, việc bạn là giáo viên mà sinh con thứ ba thì sẽ không bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật nhưng có thể bị xử lý kỷ luật theo nội quy, quy chế của trường học nơi bạn công tác.

Cặp vợ chồng nhận một con nuôi, và đẻ thêm hai con thì có coi là vi phạm chính sách dân sô hay không ạ

Trước đây khi thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình nhà nước có chủ trương cấm sinh con thứ 3 . Nếu sinh con thứ 3 thì sẽ chịu xử phạt hành chính phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, tước chứng chỉ hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ, hay bị khiển trách kỷ luật của cơ quan nơi người đó đang đảm nhiệm chức vụ, đang công tác.

Tuy nhiên, khi Nghị định 176/2013/NĐ-CP có hiệu lực kể từ 31/12/2013 ra đời, thay thế Nghị định 114/2006/NĐ-CP (đã hết hiệu lực thi hành) về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em đã không đề cập gì đến việc “xử lý việc sinh con thứ ba” nữa.

Đây là một chính sách mở để đối phó với tình trạng già đi của dân số của Việt Nam trong tương lai. Do đó, những quy định xử lý việc sinh con thứ 3 cũng sẽ phải thay đổi đảm bảo tính thống nhất của pháp luật.

Như vậy vợ chồng bạn không bị coi là vi phạm chính sách dân số.

Vợ đang mang thai không làm kinh tế được, chuân bị sinh con , chông là người duy nhất làm kinh tế luôi gia đinh như vậy có được tạm hoãn nghĩa vu năm đó không . Mong Luật Minh Khuê Sớm trả lời , và tư vân dúp tôi . Xin Trân Thành Cảm Ơn !

Theo quy định tại Luật nghĩa vụ quân sự 2015 thì:

Các trường hợp tạm hoãn nghĩa vụ quân sự gồm:

a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe;

b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận;

c) Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

d) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

đ) Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định;

e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trongthời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

 Mặt khác, trường hợp miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một;

b) Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ;

c) Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên;

d) Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân;

đ) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

Theo quy định này và chiếu theo sự việc bạn trình bày, bạn có nói rằng bạn đã lập gia đình, vợ bạn lại đang mang thai. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay không ghi nhận trường hợp vợ có thai sẽ thuộc trường hợp được miễn, tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. Như vậy, bạn vẫn phải đi nghĩa vụ quân sự bình thường.

Thưa luật sư Minh khuê. Vợ tôi làm việc hợp đồng ở đơn vị sự nghiệp công lập có đóng bảo hiểm liên tục. Cho đến khi cắt hợp đồng lao động và bảo hiểm để thi tuyển viên chức. Sau khi thi đỗ và đóng bảo hiểm trở lại , thời gian đóng bảo hiểm trở lại đến lúc sinh con là 5 tháng Vậy có đủ điều kiện hưởng thai sanr. hay quyền lợi gì không? Đã gửi từ iPhone của tôi

Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định Điều kiện hưởng chế độ thai sản

“1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.”

Theo đó, lao động nữ sinh con đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản nếu thuộc một trong hai trường hợp sau:

+ Trường hợp người lao động nữ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con thì chị đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.

+ Trường hợp người lao động nữ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 3 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con, đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên và phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám sửa bệnh có thẩm quyền.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn, thời gian đóng bảo hiểm trở lại đến lúc sinh con là 5 tháng.Trường hợp bạn tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ 6 tháng tham gia bảo hiểm xã hội trong vòng 12 tháng trước khi sinh vì vậy bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.

Lưu ý: Chế độ thai sản là một chế độ của bảo hiểm xã hội bắt buộc, nếu trường hợp lao động nữ chưa đủ 6 tháng đóng bảo hiểm bắt buộc thì người lao động chỉ có thể tiếp tục tham gia hợp đồng lao động để tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nếu đã nghỉ việc, người lao động nữ đóng  bảo hiểm xã hội tự nguyện thì sẽ không được tính cộng dồn đủ 6 tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng chế độ thai sản.

Tôi đã kí hợp đồng với công ty được 24 tháng hiện tại đã hết hạn, tuy nhiên tôi đang mang thai tháng thứ 6 và không xin việc được chổ khác, nên tôi yêu cầu công ty tái ký HĐLĐ nhưng công ty không đồng ý. Vậy công ty đó làm đúng hay sai thưa luật sư Đã gửi từ iPhone của tôi

Theo quy định tại Điều 15 BLLĐ 2012 thì "Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động". Theo đó giữa bạn với công  ty có ký hợp đồng lao động. Theo quy định tại Điều 36 BLLĐ quy định các trường hợp kết thúc HĐLĐ như sau:

"Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Như vậy trường hợp của bạn là hết hạn hợp đồng theo khoản 1 Điều 36, chứ không phải trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cho nên sau khi hết hạn hợp đồng bạn và công ty có thể thỏa thuận để tiếp tục ký hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng theo quy định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6171 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê.

Bạn đang theo dõi bài viết Những vấn đề pháp lý liên quan đến việc sinh con thứ 3 ? được phòng Tư vấn luật hôn nhân đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Tôi muốn đổi tên giấy khai sinh cho con gái sinh năm 2015 tên là phạm quỳnh như. Trong gia đình tôi hiện tại không thích tên này nên muốn đổi, không biết khi nêu lý do như vậy thì có được đổi không nên tôi muốn nhờ luật sư tư vấn và hướng dẫn cho. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Xin chào: tôi tên là TH , trước đây tôi có địa chỉ hộ khẩu ở thành phố hải phòng tôi là người việt nam, kết hôn với người hàn quốc. Trước đây khi nhập quốc tịch hq do luật chỉ được phép có một quốc tịch nên tôi đã xin từ bỏ quốc tịch vn. Bây giờ tôi muốn xin phục hồi quốc tịch vn để có song tịch.
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171