Giải quyết các vấn đề sau ly hôn?

Công ty luật Minh Khuê tư vấn về giải quyết các vấn đề sau ly hôn như Quyền nuôi con, tham con và các vấn đề tài sản phát sinh:

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật hôn nhân và gia đình 2014

2. Trả lời câu hỏi

Vợ chồng em muốn ly hôn. Xin luật sư tư vấn cho em về việc chia tài sản sau ly hôn như thế nào ạ? Hiện vợ chồng em kết hôn được hơn 3 năm, có một bé gái hai tuổi. Vợ chồng em có thuê một mảnh đất để mở tiệm nhôm kiếng. Tiền thuê đất một năm là 12 triệu. Giờ còn 1 năm nữa là hết hợp đồng. Tài sản nhà cửa không có. Hiện tại có hai chiếc xe, một chiếc tay ga và một chiếc xe số đều đứng tên em. Số nợ vợ chồng em vay mượn để mở tiệm là 150 triệu. Trong đó có 80 triệu là tiền của mẹ em cho mượn nhưng không có giấy tờ chứng minh. Chồng em thì làm tiệm nhôm kiếng còn em chỉ ở nhà nội trợ nuôi con nhỏ. Giờ nếu ly hôn thì tài sản nợ nần sẽ chia như thế nào? Em và con có quyền lợi gì không?
Trước khi cưới tôi có mua một mảnh đất và bố mẹ cho tiền để xây dựng nhà ở. Khi ly hôn tài sản này có được coi là tài sản riêng của tôi không? Sau khi cưới, vợ tôi có vay tiền để mua đồ dùng trong nhà. Vậy số tiền này hai vợ chồng phải trả hay chỉ mình vợ tôi phải trả? Xin cảm ơn luật sư!

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Theo đó, Số nợ vợ chồng bạn vay mượn để mở tiệm là 150 triệu, đây là số tiền trong thời kì hôn nhân do đó, vợ chồng bạn cùng có nghĩa vụ trả nợ. Việc trả nợ sẽ do vợ chồng bạn thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì Toà án sẽ giải quyết.

Chị cho em hỏi là em vừa cưới được một tháng chưa kịp làm đăng kí kết hôn. Vợ bỏ đi theo trai. Mà việc này em đã biết từ trước khi đám cưới. Đã thỏa hiệp với nhau bằng tin nhắn face book. Sau khi đám cưới ngoại tình em có bằng chứng và vài nhân chứng. Như trường hợp của em thì sẽ dùng căn cứ nào để khởi kiện, vì em thấy hành vi của vợ em mang tính lừa đảo.?

Khoản 7 Điều 3  : “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như là vợ chồng”.

Theo quy định tại Điều 14  quy định:  “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Như vậy, mối quan hệ của hai bạn chưa phải là mối quan hệ vợ chồng. Trên thực tế về mặt pháp luật, hai bạn chưa ràng buộc bất kỳ nghĩa vụ, trách nhiệm nào. Chỉ khi hai bạn đã thực hiện thủ tục đưng ký kết hôn thì lúc này các quyền lợi và nghĩa vụ mới được phát sinh và được pháp luật bảo vệ.

Do đó, nếu việc vợ bạn đơn thuần nói dối bạn về chuyện tình cảm khi thực hiện đám cưới mà chưa đăng kí kết hôn thì pháp luật không can thiệp. Trên thực tế, pháp luật chỉ can thiệp khi bạn và vợ bạn đã xác lập mối quan hệ vợ chồng hợp pháp. Theo đó, người có hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ có thể bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự:

 Việc xử lý hành chính sẽ theo Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Tùy hành vi vi phạm mà mức phạt tiền thấp nhất là 300.000 đồng và cao nhất là 30.000.000 đồng (Điều 28 và Điều 48). 

Điều 147 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:

"1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Tuy nhiên để xử lý hình sự về hành vi này thì này luật quy định phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tái phạm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6171 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật hôn nhân- Công ty Luật Minh Khuê.

Bạn đang theo dõi bài viết Giải quyết các vấn đề sau ly hôn? được phòng Tư vấn luật hôn nhân đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh của em sinh ngày 28/05/1987, vợ của anh em sinh ngay 04/10/1993. Thời điểm quan hệ là ngày 14/12/2008, đến 04/09/2009 thì sinh ra đứa con ( chưa thử adn ). Ngày 13/01/2017 thì mới đăng ký kết hôn. Cho em hỏi, như vậy thì anh của em có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không và thời hiệu truy cứu là bao nhiêu năm. Hiện tại giờ là tháng 4 năm 2018 khi em ghi câu hỏi này ? Cảm ơn! Người gửi : Tống Khánh Duy
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171