Cho vay với lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay lãi nặng ?

Luật sư tư vấn công ty luật Minh Khuê

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau: 

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật dân sự 2005

Quyết định 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam

Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009

 Luật số 71/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung các Luật về thuế.

Nội dung phân tích:

Kính thưa luật sư. Việc là người chị và anh rể của tôi có mượn sổ hồng của người cô 2 tôi đi vay tiền là 300 triệu đồng,khi ra công chứng thì cô 2 và dượng 2 tôi đều ra kí tên nhưng không biết gì mà chỉ biết kí,và giấy khi kí là hợp đồng sang nhượng. Thời gian sau bên cho vay đã làm thủ tục thay tên đổi chủ sổ hồng luôn. Bây giờ họ đang thưa ra tòa đòi nhà. Luật sư cho tôi hỏi thứ 1 : cô và dượng 2 tôi khi đó đã trên 60 tuổi thì việc mua bán căn nhà có cần phải có con cái xác nhận hay không. Thứ 2: làm giấy sang nhượng nhà thì bên được sang nhượng có được phép thay tên đổi chủ căn nhà hay không. Thứ 3: hiện tại đã hòa giải 2 buổi tại tòa không thành,tôi có thể khởi kiện bên vay về chiếm đoạt tài sản và cho vay nặng lãi được không thưa luật sư. Kính mong luật sư giúp đỡ! 

Thứ nhất , về việc cô và dượng bạn có đủ điều kiện mau bán nhà không ,  pháp luật không quy định về việc hạn chế dộ tuổi khi giao kết hợp đồng dân sự , trường hợp căn nhà thuộc sở hữu hợp pháp của cô và dương bạn và tại thời điểm giao kết hợp đồng sang nhượng ngôi nhà thì cả hai người còn minh mẫn thì hợp đồng này hoàn toàn hợp pháp cả  về chủ thể giao kết ,  nội dung , đối tượng và hình thức . 

Thứ hai, giấy sang nhượng trên đã  được công chứng thì người được nhận chuyển nhượng hoàn toàn có quyền đứng tên chủ sở hữ căn nhà . 

Thứ ba , việc anh rể bạn mượn sổ hồng của cô dượng bạn để làm tài sản đảm bảo cho việc vay 300 triệu đồng là sự thỏa thuận miệng giữa 3 người , nhưng trên thực tế thì hai eben lại không làm hợp đồng vay có thế chấp mà lại làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất , các bên trong hợp đồng cũng đã ký vào và được công chứng chứng thực . Vậy số tiền 300 triệu đồng đó có được xác định la tiền vay hay không ? Nếu bên cho vay biết rằng cô và dượng bạn có kiến thức pháp luật hạn hẹp và cố ý thay đổi hình thức và nội dung hợp đồng nhằm chiếm đoạt  căn nhà  thì họ có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 BLHS . Mặt khác nếu bên cho vay có thỏa thuận với cô và dượng bạn về việc thay đổi từ hợp đồng vay thành hợp đồng mua , bán nhà với giá mua là 300 triệu đồng và cô , dượng bạn đồng ý ký kết với người đó về hợp đồng này thì người này sẽ không vi phạm pháp luật . 

Điều 139 luật hình sự năm 1999 quy định:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Về ciệc người này có phạm tội cho vay lãi nặng hay không thì với thông tin bạn cung cấp thì giữa hai bên không xác lập hợp đồng vay tài sản , không  quy định về mức lãi suất nên hành vi của người này không cấu thành tội cho vay lãi nặng . 

Thưa luật sư , em có vay của một người 200 triệu đồng với mức lãi suất là 10 triệu đồng trên 1 ngaỳ thì bên cho vay có thuộc trường hợp cho vay lãi nặng không ạ ?

Theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lãi suất cho vay: 
“1.Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.”

Về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm . Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.  

Vậy trong trường hợp củ bạn lãi suất 1 ngày sẽ là 5% , vậy 1 tháng sẽ là 150% cao hơn 10 lần mức lãi suất 1,125%  , vậy trong trường hợp này khoản vay của người cho vay đã  vi phạm về lãi suất theo cả luật dân sự và hình sự  , Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm".

Vậy trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn tố cáo hoặc đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đến cơ quan công an cấp quận huyện nơi người đó đang cư trú để cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và truy tố người này về tội  cho vay lãi nặng . 

Chào luật sư Minh khuê. Tôi xin nhờ luật sư tư vấn giúp tôi về những khoản tiền lấy sổ đỏ. Cách đây 9 tháng xã có gửi giấy mời lên lấy sổ đỏ và đóng thuế với số tiền 51trieu. Vì hoàn cảnh khó khăn gia đình tôi chưa lấy ngay dược. Và bây giờ gia đình tôi lên lấy thì xã bắt đóng thêm tiền nộp chậm là 16.700.000.d tổng cộng là 67.700.000.d. Vậy là lãi suất thành nặng lãi. Và xã nói do huyện ký rồi. Ra kho bạc nhà nuớc dóng . Vậy xin hỏi luật sư số tiền tôi phải đóng có đúng luật của nhà nuớc hay không? Giá đình tôi xin cảm ơn luật sư tư vấn.

Trong trường hợp của bạn , việc bạn chậm nộp lệ phí trước bạ khi làm thủ tục xin cấp sổ đỏ là không đúng  với quy định của pháp luật ; nên ngoài số tiền thuế phải nộp thì bạn còn phải nộp thêm 1 khoản nữa đó là tiền phạt chậm nộp thuế . 

Theo quy định của pháp luật thì thời hạn nộp lệ phí trước bạ là 30 ngày (ba mươi ngày) kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí trước bạ. Hết thời hạn quy định thì sẽ phải trả tiền phạt chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Luật sửa đổi, bổ sung các luật về thuế có quy định mức  phạt chậm nộp như sau:

“4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 106 như sau:

“1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.”

Theo đó:

Số tiền chậm nộp = 0,05%  x  số ngày chậm nộp  x  số tiền lệ phí trước bạ phải nộp

Cách đây 9 tháng bạn được nhận thông báo của UBND cấp xã do vậy bạn có nghĩa vụ nộp thuế trong vòng 30 ngày kể từ ngày nộp thuế , vậy thời gian bạn chậm nộp là khoảng 08 tháng , giải sử mỗi tháng có 30 ngày thì số tiền phạt chậm nộp bạn phải nộp là khoảng hơn 6 triệu đồng chứ không phải là 16 triệu 700 ngàn đồng . Bạn co thể yêu cầu cơ quan thuế giải thích và đưa ra căn cứ về việc này . 

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.

Bạn đang theo dõi bài viết Cho vay với lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay lãi nặng ? được phòng Tư vấn luật hình sự đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh của em sinh ngày 28/05/1987, vợ của anh em sinh ngay 04/10/1993. Thời điểm quan hệ là ngày 14/12/2008, đến 04/09/2009 thì sinh ra đứa con ( chưa thử adn ). Ngày 13/01/2017 thì mới đăng ký kết hôn. Cho em hỏi, như vậy thì anh của em có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không và thời hiệu truy cứu là bao nhiêu năm. Hiện tại giờ là tháng 4 năm 2018 khi em ghi câu hỏi này ? Cảm ơn! Người gửi : Tống Khánh Duy
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171