Quy định pháp luật về tranh chấp đất đai

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật Đất đai

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2015

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội

2. Luật sư tư vấn: 

Chào luật sư, em muốn hỏi luật sư về một số điều như sau: bên nội em chia đất đai mà bây giờ cấp lại sổ và để cho bác thứ 3 trong nhà em đứng tên. Nhưng đất đai bên nội cho những người con vẫn chưa chia ra. Mà bây giờ ba em lại mất. Vậy cho em hỏi là khi bác thứ 3 của em đã đứng tên thì tới khi quy hoạch, nhà em không được chia thì em có quyền kiện không? Và ba em đã xây một căn nhà trên mảnh đất của ông nội, em chỉ muốn lấy lại căn nhà của nhà em đã xây thôi. Vậy nếu như vậy em có được quyền để kiện không?

Điều 652 Bộ Luật dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Với những thông tin quý khách cung cấp thì chúng tôi chưa thể đưa ra câu trả lời tư vấn chính xác cho quý khách. Vì vậy, mong quý khách có thể cung cấp thêm những thông tin về mảnh đất, chủ sử dụng đất, sự kiện chia đất đai trong gia đình của ông quý khách. Nếu bác thứ ba của quý khách đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng như luật định, việc chia đất đai không trái quy định pháp luật thì bác thứ ba được pháp luật ghi nhận quyền đối với diện tích đất đã được đứng tên. Quý khách hay ba của quý khách không thể đòi hỏi quyền lợi trong diện tích đất đó được. Nhưng nếu việc sang tên cho bác thứ ba vi phạm quy định pháp luật thì quý khách - với tư cách là người thừa kế thế vị của ba quý khách có quyền khởi kiện dân sự để yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai là di sản thừa kế (nếu ông, bà của quý khách mất).

Ba của quý khách đã xây một căn nhà trên mảnh đất của ông nội, nếu ba quý khách chứng minh được việc mình đã xây dựng nhà đó và người khác lại được hưởng quyền sử dụng diện tích đất có căn nhà ba quý khách xây thì ba quý khách có quyền yêu cầu người hưởng quyền sử dụng đất tra lại số tiền tương ứng với giá trị căn nhà. Nếu người hưởng quyền sử dụng đất không trả tiền cho ba quý khách thì quý khách có quyền khởi kiện dân sự thay cho ba mình để yêu cầu người đang chiếm giữ căn nhà phải trả sô tiền tương ứng với giá trị căn nhà.

Chào luật sư tôi có vấn đề mong luật sư tư vấn. Trong gia đình bà ngoại tôi có 4 người con (3 nữ và 1 nam).Trước kia ngoại tôi có yêu cầu mẹ tôi về ở phía sau nhà ngoại và hứa cho mẹ tôi miếng đất phía sau lưng nhà ngoại .Và thế là mẹ tôi đã xây nhà lên và tu sửa lại nhà trên ngoại. Lúc ngoại bị ốm thì có đi cắt riêng hộ khẩu cho mẹ tôi đứng tên. Chưa kịp làm giấy tờ đất thì ngoại đã mất. Vì thế hiện giờ hộ khẩu riêng thì đã có nhưng trên giấy tờ đất thì vẫn là của chung. Lúc đầu mấy chị em có bàn với nhau là để nhà thờ. Nhưng khi về sau 2 người em kế của mẹ đã mắc nợ và đã cưỡng ép mẹ tôi phải đưa giấy tờ đất ra (người ta hay gọi nó là bằng khoán) để đi vay bên ngoài. Mẹ tôi và chị mẹ tôi thì không đồng ý vì sợ tiền mẹ đẻ tiền con rồi mất luôn cả nhà lẫn đất. Nên đã bàn lại với nhau là bán hết rồi chia đều nhưng 2 người em của mẹ không đồng ý vì nói là để nhà thờ.Nhưng thật ra thì đó chỉ là cái cớ của họ. Họ muốn bắt mẹ tôi phải tự dọn đi thôi. Khi mẹ và chị mẹ tôi không đồng ý thì họ đã bàn ra kế hoạch là đi cớp mất giấy tờ để họ làm lại rồi cầm lấy đi vay. Mẹ và chị mẹ cũng đang rất là hoang mang về chuyện này. Không biết họ làm vậy có được không? Bán không được mà chia cũng không xong. Mẹ và chị mẹ tôi giờ cũng đã lớn tuổi rồi nếu chưa giải quyết xong thì lỡ mai này họ có chuyện thì có được chuyển sang đời tôi được quyền tranh chấp với 2 người em của mẹ không? hay là người mất, của cũng mất theo? Từ trước đến giờ tiền điện , nước là mẹ tôi đóng nốt là do ba hoặc mẹ tôi đứng tên đăng ký. Hai người em của mẹ cứ xài điện nước vô tội vạ.Tôi định đi cắt nhưng nghe người trong xóm nói là một nhà chỉ được đăng ký một cái mà thôi. Bên quản lý điện nước không cho cắt.Tình trạng của nhà tôi như thế thì có được quyền đi cắt điện nước không? Xin luật sư tư vấn cho em biết ạ. Em xin cảm ơn.

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

"Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế"
"Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia."

Vì bà ngoại quý khách mất nhưng không để lại di chúc nên mẹ quý khách và những người con của bà ngoại có quyền thừa kế ngang nhau vì cùng hàng thừa kế. Nhưng vì bốn người không thỏa thuận được với nhau về việc chia di sản nên hiện nay di sản vẫn chưa được chia cho tất cả những người thừa kế. Mẹ quý khách hoặc một người trong hàng thừa kế có quyền làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện nơi có đất để yêu cầu chia di sản thừa kế của bà ngoại nếu thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế vẫn còn. Thời hiệu khởi kiện được quy định là 30 năm kể từ thời điểm người để lại di sản mất. Quý khách xem xét trường hợp của mình để xác định còn thời hiệu không để thực hiện làm thủ tục khởi kiện chia di sản thừa kế.

Nếu việc tranh chấp di sản thừa kế chưa được giải quyết xong mà mẹ quý khách và bác gái của quý khách mất thì quý khách và con của bác là người thừa kế theo pháp luật sẽ thừa kế về quyền và nghĩa vụ trong vụ án, tiếp tục thực hiện việc giải quyết vụ án. Điều này căn cứ trên quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Hiện tại, hai người em của mẹ quý khách sử dụng điện nước quá mức bình thường và quý khách muốn dừng việc nhận cung cấp điện nước thì quý khách phải làm việc với công ty điện, nước địa phương quý khách để dừng việc nhận cung cấp.

Mới đầu năm tôi làm 1 cái cổng ngõ. Tôi muốn mở rộng cổng ngõ ra và xây cột trụ lùi vào phần đất nhà mình. Phần tường rào cũng được tôi xây bớt vào để thuận tiện cho việc đi lại. Phần ngõ là của chung 3 nhà chúng tôi, nhưng bên hàng xóm họ lại khẳng định và muốn làm cổng lấn chiếm phần ngõ và làm ngay 1 chiếc cột trứơc cổng. Chúng tôi đã ngăn lại nhưng họ bảo nhất định sẽ đổ để con cháu về sau không tranh nhau đất đai. Mong công ty luật minh khuê tư vấn giúp 

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất là giấy tờ xác nhận quyền sử dụng đất của người sử dụng. Khi đã được cấp giấy chứng nhận, chủ sử dụng đất được phép thực hiện các hoạt động xây dựng trong phần diện tích đất đó theo quy định của pháp luật. Cá nhân, tổ chức khi không được phép của chủ sử dụng đất mà có những hành vi làm phương hại đến quyền sử dụng đất thì chủ sử dụng có quyền yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi dừng hành vi và bồi thường nếu có xâm phạm. Trường hợp chủ sử dụng không thể tự mình thực hiện quyền này thì có quyền gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải. Nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đã hòa giải nhưng không thành thì được giải quyết theo Điều 203 Luật đất đai năm 2013 như sau:
"Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Gia đình mình có vấn đề này về đất đai nhờ luật sư giúp đỡ giúp: vườn nhà em đã làm bìa thổ cư. Nhưng gần đồi nên có dòng họ làm nghĩa trang cho họ đã xảy ra tranh chấp nhưng thoả thuận xong và hai bên ký thống nhất ranh giới.nhà em đã làm bìa giờ dòng họ ấy lại phát vào vườn nhà em, vì dòng họ ấy có con em làm phó chủ tịch xã nên hống hách gây sự lắm.Và em đã làm đơn lên xã mà hơn nửa tháng chưa được giải quyết. Vậy mong luật sư cho biết em phải làm thế nào để xã giải quyết cho gia đình.

 Trường hợp của gia đình bạn được xác định là tranh chấp đất đai. Theo đúng luật thủ tục này buộc phải hòa giải tại ubnd cấp xã/phường nơi có đất.Nếu vườn nhà của quý khách đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quý khách đã làm đơn lên Ủy ban nhân dân xã yêu cầu giải quyết nhưng không được giải quyết thì quý khách có quyền làm đơn khởi kiện nộp tại Tòa án nhân dân huyện nơi quý khách có đất để giải quyết tranh chấp.

Cháu chào luật sư. Cháu có một vấn đề muốn nghe sự tư vấn. Gia đình cháu 10 năm trước có ở cạnh nhà một chú tên An. Do từ nhà chú An ra đường công cộng bị lầy lội rất khó đi, nên chú An có xin phép bố cháu cho chú đi tắt nhờ qua khoảng vườn nhà cháu để ra đường công cộng cho tiện. Nhà cháu với nhà chú An đó rất thân nhau nên bố cháu cũng nhận lời. Tuy nhiên, tháng trước, chú An chuyển nhà và bán đất lại cho một chú tên Trung. Vì một số lý do nên chú Trung với bố cháu có xung đột, bố cháu không muốn cho chú Trung đi qua lối đi tắt qua vườn kia nữa và bố cháu đã bịt lối đi lại. Chú Trung nói với bố cháu là như vậy là vô lý và xâm phạm quyền lợi của gia đình chú Trung, chú Trung nói sẽ nhờ tòa án giải quyết. Vậy chú luật sư cho cháu được hỏi, bố cháu bịt lối đi kia có sai không ạ? Và nếu sai thì sai ở đâu và nhà cháu cần phải làm gì ạ? Cháu cảm ơn chú ạ! Cháu chúc chú sức khỏe và thành công ạ!

Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề được quy định tại Điều 254 Bộ Luật Dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 254. Quyền về lối đi qua

1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù."

Quý khách thông tin từ nhà chú An ra đường công công rất khó đi và đã xin đi qua vườn nhà quý khách cho tiện. Điều này nghĩa là từ nhà chú An ra đường cộng cộng vẫn có lối đi, nhưng lối đi đó bị lầy lội, khó đi. Như vậy, gia đình quý khách không buộc phải mở lối đi cho gia đình chú An và cho gia đình đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chú An vì lối đi qua nhà quý khách không phải là lối đi duy nhất từ nhà chú An ra đường công cộng. Gia đình quý khách chỉ phải mở lối đi cần thiết cho gia đình kia trong trường hợp gia đình đó bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ thể khác mà không có lối đi ra đường công cộng. Còn trong trường hợp bất đông sản đó có lỗi đi nhưng lỗi đi khó đi lại thi họ phải thực hiện xây dựng để có thể đi lại qua đó được.

Tôi có một vấn đề về đất đai mong nhận được sự tư vấn và giải đáp từ phía quý luật sư. Năm 1996 gia đình tôi có bán một mẫu đất khi bán đất gia đình tôi có làm một tờ giấy thỏa thuận sang nhượng đất, trên giấy ghi rõ sau khi sang nhượng đất phía người mua đất phải để ra một phần đất có bề ngang 2m và chiều dài hết mảnh đất để làm đường đi. Do mảnh đất mà gia đình tôi sang nhượng lại không liền kề với mảnh đất mà hiện tại gia đình tôi đang sử dụng , mà diện tích đất để làm đường đi chỉ có 200m2 không đủ điều kiện để cắt sổ đỏ, vì thế khi gia đình người mua đất làm sổ đỏ, địa chính tại địa phương yêu cầu gia đình người mua đất kê khai 200m2 đất sử dụng làm đường đi đó vào sổ đỏ của gia đình người mua. Từ đó đến nay gia đình tôi vẫn đi trên con đường đó và gia đình người mua cũng không ý kiến gì về vấn đề đó. Thế nhưng do vấn đề kinh tế gia đình người mua đất đã bán lại mảnh đất đó cho một hộ gia đình khác. Khi gia đình khác vào sinh sống họ không cho gia đình tôi đi trên con đường đó với lý do 200m2 đất đó nằm trong sổ đỏ của gia đình họ. Vậy tôi xin hỏi quý luật sư với vấn đề trên gia đình tôi có thể khiếu nại được hay không? Và theo quy định hiện hành về luật đất đai thì gia đình người mua hiện tại có quyền không cho gia đình tôi sử dụng con đường đó hay không.

Hiện nay 200 m2 đất gia đình quý khách sử dụng làm lối đi hiện vẫn được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình nhà kia và gia đình quý khách và gia đình đó cũng không có văn bản thỏa thuận rằng họ sẽ cho gia đình quý khách đi qua diện tích 200 m2 nên hộ gia đình hiện là chủ sử dụng đất không cho gia đình quý khách đi qua nữa. Nếu gia đình quý khách bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề mà không có hoặc lối đi không đủ để đi ra đường công cộng và diện tích 200 m2 đó là lối đi hợp lý, thuận tiện nhất thì gia đình đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải cho phép gia đình bạn đi trên đất đó khi gia đình quý khách yêu cầu và đến bù cho gia đình kia. Còn nếu gia đình quý khách vẫn còn lối đi khác ngoài lối đi trên thì gia đình kia không có trách nhiệm phải mở lối đi cho gia đình quý khách.

Quý khách thông tin ngõ là sử dụng chung của ba hộ gia đình và hiện có một hộ đang muốn làm cổng lấn phần ngõ đi chung đó. Nếu sự việc như những thông tin quý khách giao đổi thì gia đình quý khách và các hộ gia đình còn lại có thể làm đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã hòa giải theo Điều 202 Luật Đất đai năm 2013:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

Bạn đang theo dõi bài viết Quy định pháp luật về tranh chấp đất đai được phòng Tư vấn luật đất đai đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Thưa luật sư e có người bạn bị bắt trong ks cùng bạn của người đó. Bị bắt 3 người, nhưng chỉ có mình bạn e hiện đang tạm gian. Còn người kia thì đưa đi trại nhị xuân. Công an điều nói bạn e là tàn trữ ma tuy đá. Chờ ngày ra toàn vậy chỉ có mình bạn e là chịêu trách nhiệm hình sự thôi phải không ạ ? Với số lượng là 0,36gram vậy khoảng bao nhiêu năm ạ ? Người gửi : Cao Thanh Hằng
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171