Điều kiện và thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất ?

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật Đất đai về điều kiện và thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất theo những quy định pháp lý hiện hành:

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

Nghị định số 01/2017/NĐ - CP của Chính phủ: sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai

Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường : Quy định về hồ sơ địa chính

2. Luật sư tư vấn:

Chào công ty Luật Minh Khuê, tôi muốn nhờ công ty tư vấn về việc làm sổ nhà với diện tích đất là 800 m2 với những thông tin chi tiết như sau: - Vị trí nhà đất: Trong hẻm, đường chính (4-6m), đường chính và đường hẻm là đường đất. Đường chính cắt với đường Tam Bình, phường Hiệp Bình Chánh - Nhà tường tole, 2 phòng ngủ, 1 bếp, 1 toilet - Giấy tờ mua bán sang nhượng là giấy tay, không công chứng giữa con trai và vợ thứ 2 của con trai người chủ đất năm 2010 - Giấy tờ nhà đất hiện có: Chỉ có sao y Tờ đăng ký nhà đất của chủ đất được cấp bởi UBND phường Hiệp Bình Chánh (800m2 để ở) tháng 8 năm 1999 và giấy tờ sang tay - Hiện chủ đất đứng tên trên tờ đăng ký nhà đất và con trai đã mất, nhà chỉ còn vợ thứ 2 và người con . - Đất nằm trong khu vực không quy hoạch của phường Hiệp Bình Chánh. - Đã có điện nước đầy đủ. Nội dung tư vấn cụ thể như sau: - Quy trình thủ tục cần thiết để làm sổ nhà đất theo pháp luật hiện hành. - Cụ thể các loại thuế cần nộp. - Thời gian chờ tối đa kể từ ngày bắt đầu làm hồ sơ.

Theo những thông tin quý khách cung cấp thì chúng tôi chưa thể xác định tính chất pháp lý của diện tích đất 80 m2 mà quý khách muốn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất. Diện tích đất 800 m2 để ở này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất. Nhưng xét về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất thì nếu diện tích đất 800 m2 để ở của chủ đất nêu trên đáp ứng được điều kiện tại Điều 99 và Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 thì sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

"Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;
b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;
k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này
"

Vì hộ gia đình đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất với diện tích đất 800 m2 để ở nên nếu hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vi phạm pháp luật đất đai, hiện được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiêt xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn thì thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Hộ gia đình nên trên đã sử dụng diện tích đất 800 m2 từ năm 1999 đến nay, không có tranh chấp. Nếu Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị thì diện tích đó sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Sau khi chủ hộ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì quý khách và chủ hộ sẽ thực hiện được thủ tục làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Nếu hộ gia đình đã sử dụng diện tích đất trên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì hiện nay giấy tờ mua bán đất không có công chứng, chứng thực sẽ không hợp pháp và quý khách không thể thực hiện được thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mình.

Thưa luật sư, tôi đang có dự định mua 1 lô đất với diện tích được công nhận là 57 m2 ở quận Bình Tân, hiện nay lô đất này đã có nhà tạm là 20 m2 nhưng chưa có sổ hồng, đã có bảng nội nghiệp. Nhưng tôi băn khoăn là không biết lô đất này có ra được sổ hay không? Và nếu có ra sổ thì mất bao lâu thời gian? Và nếu mua thì xin luật sư cho biết tôi nên chú ý những vấn đề gì khi đi công chứng thủ tục mua bán? Mong nhận được phản hồi của luật sư. Xin cảm ơn!

Để xác định diện tích đất nêu trên có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất hay không thì chúng tôi cần phải khai thác thêm những thông tin liên quan về thửa đấtt như: nguồn gốc thửa đất, nguồn gốc sử dụng đất, việc công nhận có được thể hiện bằng giấy tờ gì không? hiện tại việc sử dụng đất có bị tranh chấp không? có vi phạm pháp luật về đất đai không? Trên bản đồ địa chính cấp xã ghi nhận chủ sử dụng đất là ai?.. Với những thông tin sơ sài của quý khách, chúng tôi không thể đưa ra sự tư vấn chính xác nhất. Nếu thửa đất trên đủ điều kiện quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP thì thửa đất sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất. 

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này"
"Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.
Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;
b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;
c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;
d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 143 và Khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.
Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;
b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này;
c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này;
d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
3. Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.
Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó.
4. Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này được thực hiện theo quy định tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;
c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng như trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đất đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
6. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong các trường hợp quy định tại Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật.
7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều này mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định.
"

Hiện tại, thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất nên nếu quý khác muốn nhận chuyển nhượng (mua) thửa đất này thi quý khách cần yêu cầu đối tượng chuyển nhượng (bên bán) thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận với thửa đất trên rồi sau đó mới thực hiện thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nếu thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hiện tại quý khách không thể thực hiện được việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng và không thể thực hiện được thủ tục sang têm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.

Lời đầu tiên tôi xin chúc sức khỏe luật sư và sau đó tôi xin được hỏi một số vấn đề như sau: Nhà tôi có mua một mảnh đất núi để làm rẫy và được viết giấy tay, nay có người khác giành lấy và bán. Tôi có viết đơn trình lên xã đã được 2 tháng rồi nhưng không có ai đề cập đến. Tôi ra hỏi xã thì bị trách là đất không có bia đỏ thì không có quyền kiện. Nhưng tất cả vùng đất trên đồi núí đều không có bìa đỏ. Từ xưa đến nay ông bà khai hoang để lại cho con cháu, mua bán có người làm chứng và viết giấy tay. Nay tôi xin hỏi luật sư trường hợp của tôi làm đơn lên xã mà xã không giải quyết là có đúng không?
Chào Luật Minh khuê! Tôi có mua một mảnh đất diện tích là 34,9 m2 với đơn giá 9 triệu/m2. Mảnh đất này thuộc xã Kim Chung, Hoài Đức. Nay tôi muốn làm sổ đỏ nhưng vấn đề ở chỗ là do khi mua bán tôi chỉ có giấy tờ mua bán viết tay và biên bản cắt đất của xã. Vậy có khó khăn gì cho tôi không? Tôi cần làm những thủ tục gì? Mong được hồi âm sớm. Cám ơn!
Chào luật sư, cho em hỏi: trước kia năm 1994 nhà em có mua một mảnh đất của hàng xóm và xây nhà ở và chưa làm sổ đỏ, chỉ có một giấy viết tay mua bán. Đến năm 2008 thì xảy ra tranh chấp nhưng cán bộ huyện đã xử gia đình em thắng, Nhưng cho tới nay thì sau nhiều lần đề nghị họ đưa sổ đỏ để gia đình em làm sổ đỏ riêng họ không chịu đưa. Vậy có cách giải quyết nào không thưa luật sư. Em chân thành cảm ơn!
Dear luật sư. Em có ý định mua 1 lô đất của người quen khoảng 10m2 đã xây nhà Hiện người đó nói giấy tờ liên quan chỉ có: - Sổ hộ khẩu ( do 10m2 không có sổ đỏ ) - Giấy cấp phát đất do nhà máy cấp (đất này trước đây do nhà máy cấp cho ) - giấy tờ mua bán viết tay. Vậy với những giấy tờ này đã đủ để em sang tên mình tránh các tranh chấp về sau chưa ? Có cần bổ sung giấy tờ gì và làm các thủ gì không ạ? Xin luật sư tư vấn giúp em

Theo những thông tin quý khách cung cấp thì diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của một người khác, người đó đã chuyển nhượng lại cho quý khách vào thời điểm đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước ngày 01/01/2008, lập thành văn bản (bản viết tay) thì sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 01/2017/NĐ - CP như sau:

"54. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 82 như sau:
"1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:
a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;
b) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này;
c) Sử dụng đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.

Trường hợp quý khách đã mua mảnh đất của hàng xóm có hợp đồng mua bán (giấy viết tay) và xây dựng nhà ở nhưng chưa làm sổ đỏ. Sau nhiều lần đề nghị gia đình hàng xóm đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà mà họ không giao thì theo quy định Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP và Nghị định 01/2017/NĐ - CP nêu trên, quý khách đã đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Quý khách vẫn có thể thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT - BTNMT như sau:

"Điều 9. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất

4. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà bên chuyển quyền đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định:

a) Trường hợp nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mà có hợp đồng hoặc văn bản về chuyển quyền theo quy định nhưng bên chuyển quyền không trao Giấy chứng nhận cho bên nhận chuyển quyền, hồ sơ gồm:

- Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 09/ĐK;

- Hợp đồng hoặc văn bản về chuyển quyền đã lập theo quy định;"

Như vậy, mặc dù quý khách không có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người hàng xóm đã bán đất cho mình nhưng quý khách vẫn có thể đăng ký biến động đất đai với giấy mua bán viết tay có đề năm hai bên đã thực hiện. Quý khách cần chuẩn bị hồ sơ gồm những giấy tờ sau khi đăng ký biến động:

-Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 09/ĐK trong Thông tư số 24/2014/TT - BTNMT và

-Hợp đồng chuyển nhương quyền sử dụng đất (Giấy mua bán viêt tay năm 1994)

Quý khách nộp hồ sơ tại văn phòng đăng ký đất đai hoặc phòng tài nguyên môi trường cấp huyện để được giải quyết theo đúng quy định trên.

Nếu hợp đồng chuyển nhượng (Giấy mua bán nhà đất) được ký kết, xác lập sau ngày 01/7/2014 mà chủ thể chuyển nhượng (bên bán) không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì bên nhận chuyển nhượng (bên mua) sẽ không được xem xét cấp giấy chứng nhận. 

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

Bạn đang theo dõi bài viết Điều kiện và thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất ? được phòng Tư vấn luật đất đai đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Tôi muốn đổi tên giấy khai sinh cho con gái sinh năm 2015 tên là phạm quỳnh như. Trong gia đình tôi hiện tại không thích tên này nên muốn đổi, không biết khi nêu lý do như vậy thì có được đổi không nên tôi muốn nhờ luật sư tư vấn và hướng dẫn cho. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Chào luật sư em đang có thắc mắc nếu sau khi ly hôn, bây giờ con được 03 tuổi, em vẫn chấp nhận cho chồng chăm nom hay thăm con và chấp nhận cho đón bé về chơi trong ngày, gần 01 năm chồng em không xuống thăm con. Bây giờ, chồng em lại làm đơn giành quyền nuôi con ra Tòa án, em cần có những gì để giữ con bên cạnh mình vậy luật sư? Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư, em xin cảm ơn!
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171