Điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Luật Minh Khuê giải đáp các câu hỏi của khách hàng về các điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Luật Đất đai năm 2013

Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai

Thông tư 24/2014/TT_BTNMT về hồ sơ địa chính

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Thông tư 30/2014/TT_BTNMT về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất

II. Nội dung tư vấn

Các trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (căn cứ theo quy định tại Điều 99 Luật Đất đai 2013):

Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

"a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất."

* Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp có hộ gia đình, các nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

Theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013, có quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân được phép cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.”

Theo quy định tại Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, những giấy tờ theo quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai bao gồm:

"1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.

2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với trường hợp không có giấy tờ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

3. Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

4. Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

5. Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

6. Giấy tờ tạm giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 01 tháng 7 năm 1980 hoặc được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

7. Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng. Trường hợp xây dựng nhà ở bằng vốn ngân sách nhà nước thì phải bàn giao quỹ nhà ở đó cho cơ quan quản lý nhà ở của địa phương để quản lý, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

8. Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó."

* Các trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi không có các giấy tờ về quyền sử dụng đất: (theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai)

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

* Các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP):

- Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai.

- Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

- Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

- Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.

- Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

Thưa luật sư, cho tôi hỏi: Ông bà nội tôi đã mất lâu rồi để lại mảnh đất đang ở cho bố mẹ tôi. Sổ đỏ đứng tên bố tôi nhưng bây giờ bác tôi ra toà kiện đòi chia đất như vậy có ảnh hưởng hay phải chia đất cho bác tôi hay không ?

Nguồn gốc của mảnh đất mà bố mẹ bạn đang sử dụng trước đây là của ông bà bạn. Do đó, về mặt nguyên tắc, tài sản là quyền sử dụng đất này phải được chia theo quy định của pháp luật thừa kế khi ông bà bạn mất. Căn cứ theo quy định của BLDS 2015, nếu bác bạn là con đẻ của ông bà thì cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất như bố của bạn, trừ trường hợp bác bạn từ chối nhận di sản đó còn nếu không vẫn phải chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, gia đình bạn có thể áp dụng quy định của pháp luật hiện nay về thời hiệu để từ chối yêu cầu phân chia di sản của những đồng thừa kế khác nếu thời gian ông bà bạn mất đã quá lâu. Khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 quy định:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này."

Tôi đã gửi câu hỏi về việc cấp GCNQSD mặc dầu chưa được trả lời nhưng hiện nay văn phòng đăn ký QSDĐ đã hoàn tất HS cấp giấy CNQSDD chuyển sang cơ quan thuế để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với thửa đất thế nhưng cơ quan thuế lại không chấp nhận hồ sơ cũng với lý do phiếu thu tiền không hợp lệ ( Phiếu này do UBND xã lập năm 1997). Hàng năm GĐ tôi vẫn nộp thuế đất ở đầy đủ. Cơ quan thuế làm như vậy đúng hay sai ?

Căn cứ theo quy định tại Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Cơ quan đăng ký đất đai là đơn vị có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Do đó, cơ quan đăng ký đất đai sẽ có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ, đầy đủ và nội dung của hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận. Ngoài ra, Cơ quan TN&MT hoặc Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm lập, gửi Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai cho cơ quan Thuế đối với các trường hợp đủ điều kiện và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Theo quy định này, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các loại thuế có liên quan đến đất đai và lệ phí trước bạ do cơ quan Thuế xác định. Trong trường hợp của bạn, việc cơ quan Thuế xác định phiếu thu tiền UBND cấp xã cấp cho bạn trong hồ sơ đăng ký không hợp lệ có nghĩa là hiện tại hồ sơ của bạn đang bị thiếu căn cứ để xác định nghĩa vụ tài chính. Do đó, cơ quan Thuế có thể đề nghị cơ quan đăng ký đất đai cung cấp bổ sung thông tin theo quy định. 

Cho em hỏi nhà em hiện có 1 mảnh đất cho chú ruột ở từ năm 1990, nhà em đã nhiều lần muốn lấy lại vào năm 2003 nhưng người chú không chịu trả và có hành vi cố tình xây nhà trên mảnh đất đó. Nay nhà em nộp đơn khởi kiện thì thời gian thụ lý là bao nhiêu ngày ạ ? Em xin cảm ơn.

Theo quy định tại Điều 195, Điều 196 BLTTDS 2015, sau khi nhận đủ hồ sơ khởi kiện, Tòa án sẽ thông báo ngay cho cho bạn để nộp tiền tạm ứng án phí, sau khi bạn nộp lại biên lai tạm ứng án phí cho Tòa án thì Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án và thông báo cho bạn về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án.

Xin chào Luật Minh Khuê! Gia đinh tôi đổi đất cho gia đình ông A làm ngõ đi từ năm 1986 nhưng 2 bên gia đình không có giấy tờ chỉ thỏa thuận bằng mồm. Nhưng đến năm 2000 ông A bán lại nhà cho gia đình ông C. Ông C lại chia đất cho 03 đứa con và tự ý mở cổng đi trên gõ gia đình nhà tôi và đến năm 2015 thi gia đình con ông C bảo ngõ đó là đi chung và không chịu góp đất để đi cùng. Vậy tôi xin hỏi Gia đình tôi phải làm thủ tục gì để lấy lại quyền sử dụng ngõ đó là của gia đình tôi ? Rất mong nhà Luật tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Theo quy định của Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì để giải quyết những tranh chấp về quyền sử dụng đất có thể sử dụng đến một số cách thức như: thương lượng, hòa giải, khởi kiện. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Trong trường hợp hai bên hòa giải không thành hoặc hòa giải thành nhưng các bên không tự nguyện thực hiện thì có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết. Theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013, nếu phần đất tranh chấp này gia đình bạn đã được ghi nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thể gửi đơn khởi kiện đến TAND cấp huyện nơi có đất để được giải quyết, nếu gia đình bạn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được cấp nhưng không ghi nhận phần đất này thì có thể gửi đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đến Chủ tịch UBND hoặc đơn khởi kiện đến TAND cấp huyện nơi có đất để được giải quyết.

Kính gửi: Luật sư, Bộ phận tư vấn luật Minh Khuê. Đất quy hoạch cụm trung tâm xã, bị người dân lấn chiếm. Xã đã lập biên bản và ra quyết định xử phạt. Lãnh đạo UBND xã đề nghị cấp tham mưu ban hành quyết định cưỡng chế có được không. Nếu được thì mẫu quyết định đó lấy ở đâu? Cảm ơn.

 UBND cấp huyện nơi có đất có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai của hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai 2013, do đó việc ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất cũng thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện. Hồ sơ trình ban hành quyết định thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất được quy định tại Điều 11 Thông tư 30/2014/TT-BTNMT. Theo đó, mẫu quyết định cưỡng chế thu hồi đất là mẫu số 11 ban hành kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BTNMT. 

 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Đất đai - Công ty luật Minh Khuê.

Bạn đang theo dõi bài viết Điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ? được phòng Tư vấn luật đất đai đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Tôi muốn đổi tên giấy khai sinh cho con gái sinh năm 2015 tên là phạm quỳnh như. Trong gia đình tôi hiện tại không thích tên này nên muốn đổi, không biết khi nêu lý do như vậy thì có được đổi không nên tôi muốn nhờ luật sư tư vấn và hướng dẫn cho. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Xin chào: tôi tên là TH , trước đây tôi có địa chỉ hộ khẩu ở thành phố hải phòng tôi là người việt nam, kết hôn với người hàn quốc. Trước đây khi nhập quốc tịch hq do luật chỉ được phép có một quốc tịch nên tôi đã xin từ bỏ quốc tịch vn. Bây giờ tôi muốn xin phục hồi quốc tịch vn để có song tịch.
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171