Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được quy định như thế nào ?

Luật Minh Khuê tư vấn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và nhưng vấn đề pháp lý có liên quan:

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Căn cứ pháp lý: 

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Nghị định số 103/2008/NĐ-CP  của Chính phủ : Về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiêt hại ngoài hợp đồng

Bộ Luật Hình sự 1999

II. Nội dung tư vấn: 

tôi đang công tác tại công ty cổ phần mía đường tây ninh, trên đường đi từ cơ quan về nhà thì không may gặp tai nạn(tự té) kết quả bị gãy 1/3 xương đùi và xương bánh chè khoảng 6 tháng sau tôi đi làm lại nhưng bên bảo hiểm bảo minh lại có văn bản từ chối bồi thường thiệt hại cho tôi với lý do vi phạm luật giao thông khi điều khiển môtô không giấy phép lái xe. xin luật sư tư vấn giúp. cảm ơn

Dựa theo nghị định của nhà nước số 103/2008/NĐ-CP ngày 16/ 09/2008 dành cho bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới do nhà nước quy định thì bắt buộc mọi người khi lái xe trên đường bắt buộc phải trang bị cho mình giấy bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (hay được người dân gọi tắt là bảo hiểm xe máy). Ngoài ra, trong một số trường hợp chủ phương tiện cũng có thể thỏa thuận với doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia hợp đồng bảo hiểm tự nguyện nếu muốn.
Khi đã mua bảo hiểm bắt buộc về trách nhiệm dân sự (bảo hiểm xe máy) thì chủ phương tiện sẽ được công ty bảo hiểm đứng ra chi trả số tiền mà họ phải bồi thường theo luật dân sự quy định đối với những thiệt hại về thân thể, tính mạng, tài sản của bên thứ ba.
Thế nhưng, không phải cứ việc tham gia mua bảo hiểm như vậy là sẽ được bồi thường trong mọi trường hợp mà vẫn sẽ có những trương hợp người tham gia mua bảo hiểm bị công ty bảo hiểm không chấp nhận chi trả tiền bảo hiểm do sai phạm những điều luật quy định hoặc do có hành động làm trái pháp luật nhà nước. Sau đây là những sai phạm khiến chủ phương tiện không đủ điều kiện để nhận khoản tiền bồi thường từ công ty bảo hiểm.
• Chủ xe, tài xế, hoặc người bị thiệt hại có những hành động sai phạm, cố ý làm ra thiệt hại
• Lái xe gây ra tai nạn nhưng không dừng lại để thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm dân sự và xử lý tai nạn mà có hành vi cố ý bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm.
• Người điều khiển phương tiện, tài xế lái xe nhưng không có giấy phép lái xe, hoặc có nhưng giấy phép lái xe không đúng với phương tiện đang điều khiển.
• Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp đối với các tài sản khác.
• Thiệt hại đối với các tài sản bị mất cắp, bị cướp trong tai nạn. 
• Thiệt hại do chiến tranh, khủng bố, động đất, thiên tai...
• Thiệt hại đối với những tài sản giá trị đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, nữ trang, trang sức, tiền, các loại giấy tờ có giá trị, tranh ảnh...
Ngoài ra mọi người cũng cần lưu ý thêm khi có tai nạn giao thông xảy ra trên đường giữa 2 chủ thể động, để xác định lỗi thuộc về chủ thể nào th́ì công ty bảo hiểm căn cứ vào kết luận trong biên bản tai nạn giao thông của công an giao thông để xem xét chủ thể (người mua bảo hiểm của mình) có thuộc trách nhiệm dân sự hay không (tức là có phải chịu trách nhiệm dân sự). Lúc đó, công ty bảo hiểm mới tiến hành làm các bước tiếp theo để bồi thường cho người được bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe/ lái xe. 
Cũng chính vì lẽ đó mà khi tiếp nhận thông tin thông báo tai nạn từ khách hàng, nhân viên tiếp nhận của công ty bảo hiểm hướng dẫn khách hàng gọi công an giao thông để lập biên bản tai nạn!

Và trong trường hợp của bạn, bạn sẽ không được Công ty Bảo hiểm Bảo Minh bồi thường thiệt hại.

Hy vọng qua bài viết ngắn này của các bạn đã có thể rút ra cho mình được bài học kinh nghiệm phòng ngừa cho việc xảy ra hậu quả đáng tiếc bởi không được công ty bảo hiểm xe máy bồi thường sau khi xảy ra tai nạn.

Vợ tôi hiện đang là thủ quỹ của một cơ quan nhà nước. Thời gian gần đây có xảy ra mất trộm tiền trong két sắt cơ quan, tôi muốn hỏi một số vấn đề như sau: 1) Khi cơ quan thay đổi thủ quỹ có phải thay đổi bảo mật, cụ thể ở đây là két sắt. Vì trước đây có một số người đã làm thủ quỹ trước và dùng chung một két sắt? 2) Tại cơ quan có bảo vệ và hệ thống an ninh (lắp đặt camera nhưng không bảo trì nên đã bị hỏng) có phải chịu trách nhiệm về việc mất trộm này? 3) Vợ tôi đã làm thủ quỹ được hơn 1 năm nhưng khi cơ quan giao chức vụ thủ quỹ thì không có giấy bổ nhiệm thủ quỹ và không được hưởng phụ cấp trách nhiệm. Vậy trong trường hợp này vợ tôi có phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc mất trộm và phải bồi thường thiệt hại hoàn toàn hay không? Cảm ơn! 

Đối với trường hợp thay đổi người thủ quỹ quản lý thông tin bảo mật (két sắt) trong cơ quan nhà nước có bắt buộc phải kèm theo thay đổi bảo mật hay không thì sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào quy chế của đơn vị. Nếu quy chế đơn vị có quy định thì khi thay đổi thủ quỹ sẽ thay đổi bảo mật liên quan kèm theo.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hai. Cụ thể:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường chỉ đặt ra khi xác định được yếu tố lỗi. Theo đó, đối chiếu với trường hợp thực tế của vợ bạn thì để xác định có phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với số tiền bị mất trộm hay không thì sẽ phải căn cứ vào hợp đồng giao kết của đơn vị với vợ bạn thể hiện trách nhiệm của người thủ quỹ và nguyên nhân dẫn tới mất trộm (do khách quan hay do sự sơ suất của vợ bạn).

+ Trường hợp, vợ bạn được giao trách nhiệm quản lý nghiêm ngặt đối với tài sản trong két sắt nhưng vì sơ suất dẫn tới việc mất trộm, thất thoát tài sản của đơn vị (trong thời gian làm việc sơ ý hoặc gián tiếp để lộ thông tin hoặc để người khác nhìn thấy có thể là mật mã hoặc nơi cất giữ chìa khóa két sắt ..và trên cơ sở đó họ thực hiện hành vi trộm cắp) thì đương nhiên vợ bạn sẽ có nghĩa vụ bồi thường tương ứng với phần lỗi của mình. Đối với người thực hiện hành vi trộm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định pháp luật hình sự.

+ Trường hợp, sự việc mất trộm xảy ra do khách quan nằm ngoài sự quản lý của vợ bạn (không trong thời gian làm việc, không vì sơ suất để lộ bất cứ thông tin gì liên quan tới bảo mật két sắt) thì vấn đề truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không đặt ra mà trách nhiệm sẽ do người đã có hành vi trộm tài sản chịu.a

- Đối với người bảo vệ chịu trách nhiệm quản lý, kiểm soát ca đêm nếu có căn cứ chứng minh được vì thiếu trách nhiệm trong công việc dẫn tới trộm đột nhập vào lấy tài sản mà không hề biết thì sẽ có nghĩa vụ bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình.

kính chào công ty luật Minh Khuê. Thời gian vừa qua tôi có bán thuốc tây cho một người khách chẳng mai người đó bị dị ứng với thuốc phải điều trị tại bệnh viện khoảng 2 tuần. Giấy phép hành nghề của tôi bị gãy đang nộp hồ sơ chờ cấp lại. Vậy xin hỏi luật sư tôi có phải bồi thường thiệt hại theo điều 609 bộ luật Dân Sự hay không? Nếu có thì việc bồi thường sẽ như thế nào?

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. 

     Điều 604 Bộ luật Dân sự quy định:

     “1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

     2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình thức thì lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi gây ra thiệt hại. Trong hoàn cảnh đó chủ thể có khả năng xử sự khác nhưng đã không xử sự mặc dù có điều kiện để xử sự khác; khi thực hiện hành vi chủ thể biết được hành vi của mình có thể xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện. Lỗi được thể hiện dưới hai dạng là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Điều 604 BLDS không định nghĩa lỗi mà chỉ nêu lên là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Nghị quyết 03/2006 đã định nghĩa về 2 thuật ngữ này và sự định nghĩa giống với định nghĩa trong Điều 308 BLDS về lỗi trong trách nhiệm không thực hiện nghĩa vụ dân sự:   

  - Cố ý gây thiệt hại là một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Ví dụ: Một người thực hiện hành vi giết người với lỗi cố ý. Trong trường hợp này, người thực hiện hành vi giết người đã nhận thức được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho tính mạng của người khác nhưng vẫn thực hiện.

- Còn vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.Ví dụ: Một người uống rượu khi tham gia giao thông (lái xe ô tô) gây tai nạn để lại thương tích cho người khác. Trong trường hợp này, người tham gia giao thông có thể biết trước hành vi uống rượu có khả năng gây ta tai nạn nhưng tự tin sẽ không gây ra tai nạn làm thiệt hại lợi ích của người khác.

Như vậy, lỗi là điều kiện đầu tiên phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau:

- Phải có thiệt hại xảy ra gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần;

- Phải có hành vi trái pháp luật: là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động trái với các quy định của pháp luật;

- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại;

- Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.

Trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi mà pháp luật quy định vẫn phải bồi thường là trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải có trách nhiệm bồi thường. Với quy định này pháp luật đã dự liệu các trường hợp gây ra thiệt hại dù không có lỗi vẫn phải bồi thường nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.

 2. Xác định thiệt hại

 Trường hợp của bạn áp dụng Điều 609 Bộ luật dân sự quy định về Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

     3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 

 Điều 605 Bộ luật Dân sự quy định ba nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

- Thứ nhất: “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy đinh khác”.

Bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” là nguyên tắc được thể hiện đầu tiên trong các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nguyên tắc này đảm bảo người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường tương xứng với toàn bộ thiệt hại đã gây ra và bồi thường kịp thời, càng nhanh càng tốt để khắc phục hậu quả. Pháp luật khuyến khích các bên đương sự tự thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường. Tuy nhiên sự thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

 - Thứ hai: “Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”.

Đây là nguyên tắc thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, để giảm mức bồi thường thiệt hại thì người gây ra thiệt hại phải thỏa mãn đủ hai điều kiện là có lỗi vô ý và thiệt hại gây ra quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

- Thứ ba: “Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước cơ thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”.

Với nguyên tắc trên thì người gây thiệt hại hoặc người bị thiệt hại có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế. Cụ thể là trong trường hợp mức bồi thường quá thấp gây bất lợi cho người bị thiệt hại để khắc phục hậu quả gây ra hoặc mức bồi thường quá cao làm ành hưởng lợi ích của người gây ra thiệt hại.

Nguyên tắc trên đã dự liệu các quy định của pháp luật không thay đổi kịp theo sự thay đổi của thực tế. Bởi pháp luật mang tính ổn định, tuy không bất biến nhưng cũng không thể thay đổi từng giờ, từng ngày như sự phát triển của kinh tế, xã hội.    

Tôi xin hỏi luật sư vấn đề như sau: Tôi nuôi chó trong khuôn viên của gia đình mình (gồm nhà tôi và nhà bố mẹ tôi). Một buổi sang có bà hàng xóm đi sang gia đình tôi và bị chó nhà tôi cắn. Bà hàng xóm có đi tiêm và diều trị vết thương tại bệnh viện, tôi đã đưa cho bà 1 triêu tiền tiêm phòng dại và hỗ trợ 2 triệu tiền bồi dưỡng sức khỏe. Chó nhà tôi đang đẻ và là chó lành không dại,nguyên nhân chó cắn do bàn sang nhà tôi trong lúc gia đình tôi không ai ở nhà chỉ có bà cụ trên 80 tuổi ở nhà. Trong trường hợp này tôi phải bồi thường thiệt hại cho bà hàng xóm không? Xin nói thêm chó nhà tôi chưa tiêm phòng dại và vào sổ đăng ký theo quy định, nhưng tôi không thả rông ngoài đường mà nuôi trong khuôn viên gia đình.

Theo Điều 625 Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra quy định :

“1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.

2. Trong trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường;

4. Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”.

Tiếp đó, theo căn cứ tại Điều 623 Bộ Luật Dân sự 2005 về Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có quy định:

Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Theo quy định trên, chó dữ được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ được quy định trong Bộ Luật dân sự 2005. Chủ sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu chó dữ có trách nhiệm xích, nhốt chó cẩn thận. Nếu chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu không thuộc trường hợp không phải bồi theo quy định trên thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chó dữ gây ra cho người khác.

Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự 2005 về Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Do đó, người bị thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm có quyền yêu cầu người sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu chó dữ phải bồi thường thiệt hại cho mình, bao gồm:

- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút.

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc mình.

- Tổn thất về tinh thần: Mức bồi thường tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Trường hợp hai gia đình không tự thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường thì người chịu thiệt hại có thể khởi kiện đến Tòa án Nhân dân cấp huyện nơi cư trú để được giải quyết.

Kính gửi *BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ* Em tên : Nguyễn Ngọc Phú , sinh năm :1974, hiện tại e có hộ khẩu chung với nhà vợ ở đường Bùi Văn Ba , quận 7, TP HCM . Em có một vấn đề thắc mắc như bên dưới, mong anh chi ở bộ phận tư vần pháp luật tư vần giúp e : Có một người quen ở tỉnh Bạc Liêu muốn mua một chiếc xe tải cỡ trung để vận chuyển hàng hóa tại TP HCM , muốn nhờ e đứng tên trên giấy tờ đăng ký xe , để có biển số sài gòn luôn , tiện cho việc đi lại tại đây, nhưng e chưa hiểu rõ lắm về vấn đề này, nếu e đứng tên trên giấy tờ xe thì có đươc hay không và rủi ro gặp phải trong thời gian đứng tên là như thế nào. Vì thuê tài xế lái xe tải , e muốn trách nhiệm xảy ra ( nếu có) tài xế phải là người chịu hoàn toàn trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, vậy e có nên làm một cái hợp đồng phụ nào thêm giữa e và tài xế hay không ? Nếu có tai nạn xảy ra , e sẽ chịu liên đới và trách nhiệm như thế nào ? Mong anh chi bộ phận tư vấn pháp luật giúp cho e vấn đề này. Trân trọng kính chào và cám ơn !

Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

“1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác“.

Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại, nếu chủ sở hữu ô tô giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng, thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại này không phụ thuộc vào việc chủ xe có mặt trên chuyến xe đó hay không mà dựa vào việc ai là người đang chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó.

Nếu người gây tai nạn là người được thuê lái xe và được trả tiền công thì lái xe này không phải là người chiếm hữu, sử dụng chiếc xe, mà chủ xe mới là người chiếm hữu, sử dụng, do vậy chủ xe phải là người bồi thường thiệt hại cho người bị tai nạn theo quy định tại điểm đ khoản 1 mục III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao. Xét trong trường hợp bạn là chủ xe thì bạn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị tai nạn, trách nhiệm của bạn chỉ được loại trừ trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị nạn hoặc thiệt hại xảy ra thuộc trường hợp bất khả kháng hay tình thế cấp thiết (Khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự 2005).

Trường hợp xác định được lỗi thuộc về người lái xe khi điều khiển ô tô thì căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường của cơ quan CSGT, kết luận của cơ quan CSĐT, lời khai của nhân chứng, kết quả giám định pháp y để xác định xem người điều khiển xe ô tô có thể bị khởi tố theo quy định tại Điều 202 bộ luật hình sự năm 1999).

Việc hỗ trợ, bồi thường kịp thời, thoả đáng cho gia đình nạn nhân vừa thể hiện tính nhân văn, vừa là một trong những căn cứ để cơ quan công an xem xét có hay không khởi tố vụ án hình sự, xem xét và quyết định mức xử phạt vi phạm hành chính đối với lái xe làm thuê gây tai nạn.

Theo quy định của pháp luật, giấy Giấy đăng ký xe là giấy tờ Nhà nước cấp cho chủ sở hữu xe để công nhận quyền sở hữu của người đó đối với chiếc xe. Giấy đăng ký xe là giấy tờ chứng minh quyền tài sản và là căn cứ để chủ sở hữu xe thực hiện các quyền của chủ sở hữu. Về vấn đề đăng ký hộ, điều 164 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” do đó với trường hợp của anh xe tải là tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu nên người nào có tên trong giấy đăng ký mới được pháp luật xác nhận là chủ xe, việc viết giấy chứng minh không có hiệu lực.

Như vậy sau khi bạn đăng kí hộ chiếc xe tải này bạn nên làm thủ tục sang tên cho người quen của bạn để có thể tránh những ruit ro và rắc rối không đáng có nếu như có tai nạn sảy ra

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email  luatsu@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6171.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê.

Bạn đang theo dõi bài viết Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được quy định như thế nào ? được phòng Tư vấn luật dân sự đăng tải trên website Tư vấn pháp luật trực tuyến. Tư vấn trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo, nếu còn chưa rõ bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6171 để được hỗ trợ thêm.

VD: Tư vấn pháp luật luật, đất đai, luật sở hữu trí tuệ, thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp, ly hôn, đơn phương chia tài sản ...

Tôi muốn đổi tên giấy khai sinh cho con gái sinh năm 2015 tên là phạm quỳnh như. Trong gia đình tôi hiện tại không thích tên này nên muốn đổi, không biết khi nêu lý do như vậy thì có được đổi không nên tôi muốn nhờ luật sư tư vấn và hướng dẫn cho. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Xin chào: tôi tên là TH , trước đây tôi có địa chỉ hộ khẩu ở thành phố hải phòng tôi là người việt nam, kết hôn với người hàn quốc. Trước đây khi nhập quốc tịch hq do luật chỉ được phép có một quốc tịch nên tôi đã xin từ bỏ quốc tịch vn. Bây giờ tôi muốn xin phục hồi quốc tịch vn để có song tịch.
Tư vấn pháp luật, gọi goi tong dai luat 1900.6171